Loading...

Thời điểm bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và kiến nghị hoàn thiện

Thứ hai - 11/11/2019 18:59
Bài viết phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thời điểm bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
 

Cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) chỉ được quyền khởi tố vụ án hình sự (VAHS) khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại và họ chỉ được quyền rút yêu cầu khởi tố thuộc một trong các tội danh được liệt kê tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 [1]. Đây là những tội danh mà người phạm tội thực hiện hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của bị hại cũng như ảnh hưởng đến nhà nước và xã hội ở mức độ hạn chế; nếu như để họ tiếp tục theo đuổi vụ án thì có thể gây mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc của họ, thậm chí còn có thể làm giảm uy tín, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm và còn gây ra tiếp những tổn hại về tinh thần cho họ. Do vậy, tố tụng hình sự (TTHS) đã trao cho bị hại quyền tự quyết và định đoạt, tức là vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại trong một số trường hợp đặc biệt và họ cũng có thể rút lại yêu cầu của mình để chấm dứt tiến trình giải quyết vụ án để có thể bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của bị hại, nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của xã hội và nhiệm vụ của nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Bảo vệ bị hại không chỉ đơn thuần là trừng trị người phạm tội mà trong một số trường hợp còn phải xem xét đến nguyện vọng của bị hại mong muốn xử lý người phạm tội như thế nào. Nếu bị hại hoặc người đại diện của họ đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

1. Quy định của pháp luật tố tụng về thời điểm bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Trước đây, BLTTHS năm 2003 quy định: “Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ” [2]. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 đã bỏ cụm từ “trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm” khi quy định: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án” [3]. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng thời điểm bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố VAHS so với BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, việc này dẫn đến trường hợp có nhiều quan điểm khác nhau.

Ba nữ bị cáo bị truy tố về tội làm nhục người khác

Quan điểm thứ nhất cho rằng [4] , bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố trước khi Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm nghị án và theo đó HĐXX quyết định đình chỉ vụ án [5] . Trường hợp, HĐXX đã ra bản án, thì việc rút yêu cầu này chỉ có ý nghĩa là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phải là căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ vụ án. Bởi lẽ, việc xét xử của Tòa án không phải theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại mà là theo truy tố của Viện kiểm sát; và căn cứ hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án ở giai đoạn xét xử phúc thẩm không quy định đây là căn cứ để đình chỉ vụ án [6] .

Quan điểm thứ hai cho rằng [7] , bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố ở bất kỳ giai đoạn nào, kể cả giai đoạn phúc thẩm. Theo đó, ở giai đoạn sơ thẩm, khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án [8] và tại phiên tòa thì HĐXX quyết định đình chỉ vụ án [9] . Tuy nhiên, trường hợp sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm còn trong thời hạn kháng cáo mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm hướng dẫn họ làm đơn kháng cáo để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết việc rút yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm. Ở giai đoạn phúc thẩm, bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu thì HĐXX hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án [10] .

Chúng tôi đồng tình theo hướng xử lý như quan điểm thứ hai. Bởi vì, một khi luật không quy định hoặc quy định không rõ ràng, thì giải pháp đề ra cần phải tuân thủ theo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo và cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của bị hại, mà còn thể hiện sự tôn trọng, thực hiện quyền tự định đoạt đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn có những điểm chưa phù hợp về mặt lý luận lẫn thực tiễn và cần được hoàn thiện.

2. Thực trạng pháp luật về thời điểm bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và kiến nghị hoàn thiện

2.1. Thẩm quyền giải quyết trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Việc xác định thẩm quyền giải quyết thuộc về Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hay HĐXX thông qua giai đoạn chuyển tiếp là “ngày mở phiên tòa” là chưa hợp lý, vì ngày mở phiên tòa và ngày có quyết định đưa vụ án ra xét là không giống nhau. Ngày mở phiên tòa là ngày được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử (nếu phiên tòa không thuộc trường hợp phải hoãn hoặc tạm ngừng), còn ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử là ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử [11] . Về nguyên tắc, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì mọi thẩm quyền quyết định thuộc về HĐXX, trừ trường hợp giải quyết các yêu cầu, đề nghị về cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; đề nghị về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (trừ biện pháp tạm giam), biện pháp cưỡng chế; đề nghị về xét xử công khai hoặc xét xử kín, yêu cầu vắng mặt của người tham gia tố tụng thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trước khi mở phiên tòa [12] . Tuy nhiên, cũng có những yêu cầu phát sinh trước khi mở phiên tòa như yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; đề nghị về việc xét xử theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa báo cáo với Chánh án hoặc Phó Chánh án được phân công giải quyết theo thẩm quyền [13] .

Trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi HĐXX vào nghị án, thì HĐXX phải thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và được lập biên bản về việc đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 299 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, trong trường hợp khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi HĐXX vào nghị án thì vấn đề xem xét để đình chỉ vụ án có được giải quyết khi nghị án và khi kết thúc việc nghị án HĐXX có quyền quyết định đình chỉ vụ án hay không thì Điều 326 BLTTHS năm 2015 (nghị án) không có đề cập đến, nên đây vẫn là sự thiếu sót và hạn chế của điều luật.

Kiến nghị hoàn thiện

Theo chúng tôi, cần sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 326 BLTTHS năm 2015 (Nghị án) theo hướng: “a) Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ vụ án hay không”. Và bổ sung điểm e vào khoản 6 Điều 326 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “e) Đình chỉ vụ án”.

Việc sửa đổi, bổ sung quy định này vừa đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 299 BLTTHS năm 2015 về việc ra bản án, quyết định của Tòa án, đặc biệt là khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 về thời điểm bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố kể cả tại phiên tòa trước khi HĐXX vào nghị án và đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS – mọi hoạt động TTHS phải được thực hiện theo quy định của BLTTHS [14]. Bởi vì, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS là quan điểm, tư tưởng có tính bắt buộc, định hướng, chỉ đạo toàn bộ quy định trong BLTTHS năm 2015 cũng như hoạt động TTHS trên thực tiễn [15].

2.2. Việc bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa phúc thẩm

Trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm, thì HĐXX sẽ hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 255 BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, quy định tại Điều 359 BLTTHS năm 2015 về hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án lại không quy định về trường hợp khi bị hại hoặc người đại diện của họ rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa phúc thẩm thì HĐXX được quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là chưa giải quyết hệ quả của việc mở rộng thời điểm rút yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của bị hại quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015.

Kiến nghị hoàn thiện

Theo chúng tôi, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 359 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án”.

Việc bổ sung quy định này là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 về thời điểm bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố kể cả ở giai đoạn phúc thẩm và đảm bảo nguyên tắc pháp chế, đảm bảo tính pháp lý về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm. Ngoài ra, phương án trên khả thi hơn phương án bổ sung cụm từ “và 8” vào khoản 2 Điều 359 BLTTHS năm 2015: “Khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án”. Bởi vì, theo quy định tại khoản 8 Điều 157 BLTTHS năm 2015 thì bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố, khác với trường hợp có yêu cầu khởi tố nhưng sau đó đã rút lại yêu cầu.

2.3. Việc cần thiết mở rộng thẩm quyền đối với Thẩm phán được phân công, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Trong trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm bị hại hoặc người đại diện của bị hại kháng cáo rút yêu cầu khởi tố thì phải đợi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và tiếp tục chờ đợi đến ngày mở phiên tòa để HĐXX hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Từ đó, không những vụ án bị kéo dài, gây mất thời gian, tốn kém chi phí khi phải thành lập HĐXX và đặc biệt là ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, nếu không kịp thời được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cho tại ngoại, thì phải chờ đến ngày Tòa án mở phiên tòa và ban hành quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án kèm theo việc tuyên trả tự do cho bị cáo.

Vấn đề này xuất phát từ việc Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa không có thẩm quyền ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, xét về bản chất thì việc đình chỉ giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm với việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, kết quả cuối cùng cũng là chấm dứt tiến trình tố tụng để khép lại vụ án, do bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố nên căn cứ để khởi tố vụ án đã không còn.

Kiến nghị hoàn thiện

Theo chúng tôi, cần mở rộng thẩm quyền giải quyết của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa về việc giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa; và mở rộng thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (đối với vụ án được giải quyết theo thủ tục thông thường), Thẩm phán được phân công (đối với vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn) ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Cụ thể là bổ sung điểm e vào khoản 1 Điều 279 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “e) Yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại về việc rút yêu cầu khởi tố”; Bổ sung điểm c vào khoản 2 Điều 346 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “c) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án”; Bổ sung điểm c vào khoản 2 Điều 464 BLTTHS năm 2015 theo hướng: “c) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án”.

Việc bổ sung quy định này nhằm rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho bị cáo trong trường hợp bị tạm giam, trong khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố trước khi Tòa án mở phiên tòa (ở giai đoạn sơ thẩm) hoặc họ đã kháng cáo rút yêu cầu khởi tố (điều này đã thể hiện sự tự nguyện của họ thông qua việc được Tòa án cấp sơ thẩm hướng dẫn làm đơn kháng cáo rút yêu cầu khởi tố, nên không c